Thông báo nâng cấp

Website đang trong quá trình nâng cấp phiên bản từ v3 lên v4, nên sẽ có nhiều bài viết nháp giả định để chạy thử nghiệm, nên nội dung không liên quan đến ứng dụng gia phả. Quý vị vui lòng quay lại sau.

Biện Thượng: Giá Trị Địa Lý, Phong Thủy và Di Sản Văn Hóa

Biện Thượng: Giá Trị Địa Lý, Phong Thủy và Di Sản Văn Hóa

Họ Trịnh Thế

Biện Thượng: Giá Trị Địa Lý, Phong Thủy và Di Sản Văn Hóa

Trong tiến trình hình thành và phát triển của xứ Thanh, vùng đất Biện Thượng giữ một vị trí đặc biệt. Đây không chỉ là một địa danh hành chính đã tồn tại trong nhiều thế kỷ, mà còn là một không gian lịch sử – văn hóa tiêu biểu, nơi hội tụ các yếu tố địa lý, phong thủy, quân sự và truyền thống cư trú lâu dài.

- Chữ Biện có 2 cách viết:
    + Chữ Biện (): Mũ lớn quan văn/võ, nơi phát tích của dòng dõi quan lại. (địa danh)
    + Chữ Biện (): này mang âm đọc là Biện và có nghĩa sáng sủa, tốt lành, rạng rỡ. (tên người).
- Chữ Thượng (): Ở phía trên cao, Đề cao, coi trọng.
Chữ Biện Thượng trong địa danh viết là 弁尚.
Được hiểu là vùng đất cao quý, nơi xuất thân của các quan lớn tướng lĩnh vương hầu.
Cách cấu tạo và ngữ nghĩa của địa danh ‘Biện Thượng’ gợi liên tưởng đến một không gian được xem trọng, ở vị trí cao, song đây là cách hiểu dựa trên ngữ nghĩa Hán tự và truyền thống diễn giải địa danh.

I. Vị trí địa lý và đặc điểm phong thủy của Biện Thượng

Biện Thượng nằm ở khu vực sông Mã, trong một cấu trúc bán sơn địa đặc trưng của Tây Bắc Thanh Hóa. Theo cách tiếp cận địa lý – phong thủy truyền thống, khu vực này hội tụ ba yếu tố quan trọng:

“Hậu sơn”: Các dãy núi từ Tây Bắc kéo xuống tạo thế chẩm vững chắc, giúp dòng khí quy tụ và ổn định.
“Tiền thủy”: Sông Mã cùng các chi lưu và vùng đồng bằng rộng phí đông nam, tạo thành tuyến thủy tụ, thuận lợi cho cư trú và giao thông hàng hoá.

Trong ngôn ngữ địa dư cổ, thế đất này được mô tả là “tiến khả dĩ công – thoái khả dĩ thủ”: có thể mở rộng phát triển khi cần, nhưng cũng có khả năng phòng thủ tự nhiên. Điều này lý giải vì sao Biện Thượng thường xuyên được lựa chọn làm căn cứ quân sự, cửa ngõ bảo vệ trung tâm quyền lực vùng Thanh Hóa trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Khi đứng tại trung tâm làng Bồng (vùng Chu Tước) và quan sát theo trục Bắc – Nam, địa thế được bố trí như một thế Thái Sư Y (Ghế của Thầy), tạo nên sự bao bọc hoàn hảo:

- Phía Bắc (Sau lưng): Núi Mông Cù làm "Huyền Vũ", thế Chẩm (Tựa Lưng). Cao nhất vùng, vững chắc, che chở cho bên trong.
- Phía Đông (bên tay trái): Núi Hang kết hợp dãy núi vùng Tống Sơn cùng vùng đất chũng hay ngập nước làm "thanh long". Vòng Tay Trái. Cao hơn dãy Núi Báo (Bạch Hổ) nhưng thấp hơn núi chủ Mông Cù. Thế lượn vòng, đứt quãng bởi vùng trũng ngập nước tạo sự linh hoạt.
- Phía Tây (bên tay phải): Dãy núi Báo làm "Bạch Hổ". Vòng Tay Phải. Thấp và rộng hơn núi Hang (Thanh Long), có chức năng bảo vệ và ôm trọn.
- Phía Nam (Trước Mặt): Làng Bồng/Biện (Chu Tước), Minh Đường (Trung tâm), Vùng đất cao ráo, là trung tâm cư trú, hướng nhìn ra sông lớn.
- Giữa: Đồng Chiêm Chũng (Vùng Thủy tụ). Có nước ngập quanh năm, nằm giữa Mông Cù và làng Bồng. Là nơi tụ khí, tụ tài.
- Ngoài cùng là sông Mã, tầm nhìn thoáng đãng sang đồng bằng Yên Định mở rộng phía Nam, Thuận lợi sự sống và giao thông. Làm Minh Đường Ngoại, tượng trưng cho vương quyền rộng lớn và tài lộc.

Thế sông núi có vòng tay rộng nhiều km và đủ bộ như vậy hiếm có, đầy đủ bốn linh vật (Huyền Vũ, Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước) cùng tham gia kiến tạo. Thế đất "long bàn hổ cứ, thủy bão sơn chầu", được người đương thời xem như một trong những yếu tố góp phần tạo nên một dòng họ vương giả, nắm quyền lực cai trị đất nước suốt từ 1545 đến 1787 là 242 năm (Nắm thực quyền) như nhà Trịnh.

Ta có bảng so sánh sau để thấy 242 năm của một vương triều phong kiến là rất lớn như thế nào ở Việt nam:
- Nhà Đinh 968 → 980 = 12 năm
- Nhà Tiền Lê 980 → 1009 = 29 năm
- Nhà Lý 1009 → 1225 = 216 năm
- Nhà Trần 1225 → 1400 = 175 năm
- Nhà Hậu Lê (Sơ kỳ) 1428 → 1527 = 99 năm
- Nhà Mạc 1527 → 1592 = 65 năm (ở Thăng Long)
- Nhà Nguyễn 1802 → 1945 = 143 năm

Tuy nhiên 'Đất có vận, người có tuần', thời thế thay đổi, xét về phong thủy nay không còn được như xưa.

II. Dấu ấn khảo cổ và sự hình thành cộng đồng cư dân sớm

Khu vực Vĩnh Lộc – Tống Sơn được xác định nằm trong không gian văn hóa – khảo cổ của Văn hóa Đa Bút, một trong những nền văn hóa sơ kỳ đá mới quan trọng của lưu vực sông Mã. Sự hiện diện của cư dân từ rất sớm cho thấy Biện Thượng không phải là đơn vị hình thành muộn mà là vùng đất có nền tảng cư trú liên tục kéo dài hàng nghìn năm.

Các công trình nghiên cứu và Báo cáo khảo cổ:

- Khám phá đầu tiên: Nhà khảo cổ học người Pháp Etienne Patte đã công bố kết quả khai quật lần đầu tiên vào năm 1926. Ông mô tả đây là một di chỉ "đống rác bếp" (Kjökkenmödding) với địa tầng chứa vỏ nhuyễn thể dày tới 16m.

- Sách "Văn hóa Đa Bút tiếp cận văn hóa học tiền sử": Tác giả Nguyễn Xuân Ngọc (Nxb Khoa học xã hội, 2013) đã hệ thống hóa lại toàn bộ quá trình 90 năm phát hiện và nghiên cứu, khẳng định Đa Bút là di chỉ gốc định danh cho cả một nền văn hóa.

III. Biện Thượng trong sử sách và hệ thống địa chí cổ

1. Thời Hậu Lê (thế kỷ XV–XVIII)

Nhiều địa chí và dư địa chí thời Hậu Lê như "Thiên Nam Dư Hạ Tập" và các địa bạ phủ Hà Trung đều ghi nhận xã Biện Thượng thuộc huyện Tống Sơn. Sự xuất hiện ổn định qua nhiều thế kỷ chứng minh tính bền vững của danh xưng cũng như vai trò của đơn vị làng xã này trong cơ cấu hành chính truyền thống.

- Trước 1483: Theo truyền ngôn địa phương và một số tư liệu gián tiếp, chùa có thể khởi dựng từ thời Trần (1225 - 1400)…Chùa Báo Ân tại làng Báo, ban đầu tên là Lộc Sơn tự, sau đổi thành Báo Sơn tự. Sự tồn tại của một ngôi chùa lớn và cổ cho thấy khu vực này đã là nơi cư trú và có tên gọi (có thể là tên cổ) từ rất sớm.

- Năm 1483: Lần đầu tiên xuất hiện chính thức trong văn bản hành chính/sử liệu: Tên gọi hoặc địa danh liên quan đến khu vực này được biên chép trong bộ "Thiên Nam dư hạ tập" dưới triều vua Lê Thánh Tông, năm Hồng Đức thứ 14 (1483). Một số bản chép của Thiên Nam dư hạ tập hiện được lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam; ngoài ra, một bản chép chữ Hán của tác phẩm này cũng được lưu trữ tại Sterling Memorial Library (Đại học Yale, Hoa Kỳ), thư viện trung tâm Số 120, đường High Street, thành phố New Haven.

- Năm 1545: Trịnh Kiểm xuất thân từ Biện Thượng, được phong tước Đô tướng. Khởi điểm của Nhà Trịnh, bắt đầu nắm quyền lực.

- Năm 1683: Chùa Hoa Long (tọa lạc tại xã Vĩnh Thịnh, xưa là xã Bản Thủy) có lịch sử lâu đời, được xác định khởi dựng từ khoảng thế kỷ XIV - XV (cuối thời Trần - đầu thời Hậu Lê). Đến năm 1683 trùng tu quy mô. Tấm bia tại chùa "Hoa Long tự bi ký" Khắc rõ "Hoàng Thượng Chính Hòa tam niên, Nhâm Tuất niên" (Năm Chính Hòa thứ 3, năm Nhâm Tuất - tức năm 1683) có ghi sự ủng hộ của quan lại, nhân dân tổng Biện Thượng và sự đóng góp trực tiếp của cư dân xã Bản Thủy

- Năm 1816: Cuốn "Thanh Hóa tỉnh, Vĩnh Lộc huyện chí" (do Tri huyện Lưu Công Đạo biên soạn). Bản gốc (Hán Nôm): Hiện được lưu giữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm (Hà Nội). Bản dịch quốc ngữ: Xuất bản bởi Nhà xuất bản Thanh Hóa, tại thư viện tỉnh Thanh Hóa. Là căn cứ khoa học quan trọng xác lập mối liên hệ chặt chẽ giữa chùa Hoa Long với địa danh Biện Thượng lịch sử. Tổng Biện Thượng gồm các xã: Biện Thượng (nay là xã Vĩnh Hùng), Đông Biện (xã Vĩnh Tân cũ), Đa Bút (nay là thôn Đa Bút xã Vĩnh Tân), Biện Hạ (xã Vĩnh Minh cũ), Bản Thuỷ (nay là xã Vĩnh Thịnh), Ngọc Sơn (nay là Vĩnh An), Thọ Lộc và thôn Mai Vực.

- Đến 1885: Vua Đồng Khánh, Khi mới sinh, tên của ông là Nguyễn Phúc Ưng Kỷ (hoặc Ưng Thị, Ưng Đường). Sau khi lên ngôi (năm 1885), ông lấy tên là Nguyễn Phúc Biện (chữ Hán: 阮福昪). Chữ "Biện" 昪 dù về mặt chữ Hán, hai chữ là khác nhau (昪 / 弁), nhưng vì chữ 昪 (tên vua) có chứa chữ 弁 (tên làng) chúng đồng âm và cấu tạo. Theo thông lệ kiêng húy dưới triều Nguyễn, tên trùng hoặc gần giống âm/chữ với tên vua sẽ phải đổi. Nên tên "Biện" thành "Bồng". Trong bộ "Đồng Khánh địa dư chí" ghi lại địa lý các tỉnh trong cả nước. Hiện nay, nhà xuất bản Thế Giới, 2003 có bán bản sao bộ này.

Vậy số năm tối thiểu dùng tên Biện Thượng từ 1483 đến 1945 là 402 năm. Tuy nhiên, Biện Thượng thực tế có thể tồn tại lâu đời hơn mốc năm 1483 được ghi chép trong Thiên Nam dư hạ tập.

2. Thời Nguyễn (thế kỷ XIX)

Tư liệu như Đại Nam Nhất Thống Chí, bản đồ hành chính triều Nguyễn và các tổng danh bạ xác nhận: Vùng này trước thuộc tổng gọi là Biện Thượng — tức một đơn vị tổng (tương đương tập hợp các làng, thôn) trong hệ thống hành chính thời phong kiến. Tổng Biện Thượng là một tổng của huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa theo niên đại lịch sử phong kiến.

Phủ Hà Trung thời Lê – Nguyễn là một đơn vị hành chính có địa giới rất rộng, bao trùm phần lớn khu vực Bắc Thanh Hóa ngày nay, tương ứng với các huyện Hà Trung, Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, thị xã Bỉm Sơn và toàn bộ vùng đất nằm ở bờ bắc sông Mã. Huyện Hà Trung hiện nay chỉ là một bộ phận nhỏ của không gian phủ Hà Trung cổ.

Sự ghi nhận nhất quán này cung cấp bằng chứng lịch sử đầy đủ, khẳng định Biện Thượng là một địa danh chính thống, có vị thế quan trọng trong lịch sử hành chính ở Thanh Hóa.

IV. Vai trò lịch sử – văn hóa của vùng đất Biện Thượng

1. Cái nôi của nhiều dòng họ lớn

Vùng Biện Thượng – Tống Sơn được biết đến là quê hương của dòng họ Trịnh, thế lực chính trị nắm quyền điều hành đất nước trong thời Lê Trung Hưng suốt hơn 200 năm. Bên cạnh đó, nhiều dòng họ và nhân vật khoa bảng, võ tướng, danh thần cũng sinh tụ tại đây, tạo nên một không gian văn hóa – chính trị đặc sắc của xứ Thanh.

2. Cửa ngõ chiến lược của Thành Nhà Hồ

Ở giai đoạn cuối thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XV, khi Nhà Hồ xây dựng Thành Tây Đô, Biện Thượng giữ vai trò cửa ngõ trọng yếu phía Bắc, kiểm soát trục giao thông thủy – bộ dẫn vào kinh đô. Điều này cho thấy vị trí địa chiến lược của vùng đất trong cấu trúc phòng thủ của nhà nước trung ương thời Hồ.

3. Căn cứ nghĩa quân trong phong trào Cần Vương

Cuối thế kỷ XIX, Biện Thượng tiếp tục là địa bàn chiến lược của nghĩa quân Cần Vương do Tiến sĩ Tống Duy Tân lãnh đạo. Dãy núi Hùng Lĩnh – Báo Sơn trở thành vùng căn cứ tự nhiên. Đến thời 1941 Chiến khu Ngọc Trạo nằm ngay sau dãy núi Mông Cù, phản ánh vai trò quân sự của vùng đất này không chỉ trong thời phong kiến trung đại mà cả trong thời cận đại chống ngoại xâm.

4. Trung tâm tôn giáo – tín ngưỡng

Biện Thượng và vùng phụ cận thuộc huyện Vĩnh Lộc nằm trong vùng có mật độ di tích dày đặc nhất tỉnh Thanh Hóa; điều này được khẳng định bởi số liệu tổng (huyện Vĩnh Lộc có trên 250 di tích theo các nguồn hành chính/địa phương) và bởi sự hiện diện của nhiều quần thể di tích quan trọng (Phủ Trịnh, Nghè Vẹt, chùa Báo Ân, đền, lăng tẩm các dòng họ lớn)

V. Biến đổi trong hành chính hiện đại và sự khôi phục danh xưng cổ

Sau năm 1945, cùng với quá trình sắp xếp đơn vị hành chính trên toàn quốc, tên gọi Biện Thượng không còn được sử dụng ở cấp xã, nhường chỗ cho các tên gọi mới. Tuy nhiên, danh xưng cổ vẫn duy trì trong văn bia, gia phả và ký ức cộng đồng cư dân địa phương.

Đến năm 2025, trong chương trình sắp xếp lại các đơn vị hành chính, tên Biện Thượng được phục hồi và trở thành tên gọi chính thức của xã mới, vốn đã được ghi nhận qua nhiều thế kỷ.

Biện Thượng là một vùng đất có nền tảng địa lý – phong thủy đặc sắc, được cư trú từ rất sớm, gắn liền với nhiều sự kiện và nhân vật lịch sử quan trọng của Thanh Hóa và của quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

- Đảng uỷ - HĐND - UBND - MTTQ xã Vĩnh Hùng (2005), Lịch sử xã Vĩnh Hùng, in tại công ty in và văn hoá phẩm - Bộ VHTT.
- Đinh Xuân Lâm (1985), Từ Ba Đình đến Hùng Lĩnh (1886 - 1892), NXB Thanh Hoá.
- Lưu Công Đạo (2006), Thanh Hoá Vĩnh Lộc huyện chí (bản dịch Hán Nôm của Nguyễn Văn Hải), Lưu tại thư viện tỉnh Thanh Hoá.
- Quốc Chấn (2007), Những thắng tích của xứ Thanh, NXB Thanh Hoá.
- Lý lịch di tích Chùa Báo Ân làng Bồng Thượng, xã Vĩnh Hùng (Lưu tại phòng Văn hóa huyện Vĩnh Lộc)
- Tạp chí Di sản Văn hóa: Trong số 23, bài viết "Văn hóa Đa Bút - những giá trị cần bảo tồn và phát huy" cũng xác nhận di chỉ này nằm tại Biện Thượng.
- Báo Thanh Hóa: Trong bài viết "Văn hóa Đa Bút - hơn 90 năm phát hiện và nghiên cứu" (26/11/2018) nêu rõ: "Văn hóa Đa Bút mang tên di tích khảo cổ học Đa Bút.
- Báo Dân trí: Bài viết "Kỳ bí những chứng tích lịch sử trên vùng khảo cổ" (26/02/2018) mô tả chi tiết về "Cồn vỏ hến" và quần thể di tượng đá dưới chân núi Mông Cù.
- Bài "Huyền tích chùa Báo Ân ở Thanh Hóa" của Phạm Thị Huyền - Trường Đại học Hồng Đức - Thanh Hóa trong trang phatgiao.org.vn
Và nhiều tài liệu khác, ngày nay có thể kiểm chứng trên mạng thông qua các trang học thuật và từ điển mở.

Nguồn: trinhthe.name.vn